Tuesday, September 27, 2016

Sống dưới các chế độ



Không hiểu may rủi như thế nào, nhưng tôi đã sống một đời người qua nhiều chế độ khác nhau.
Tôi sinh ra năm 1941, nên tôi đã sống dưới chế độ bị trị, do người Pháp đô hộ chúng ta, thuở đó miền Nam là đất thuộc địa, tôi còn quá nhỏ, nên chỉ biết rằng trong làng có Ban Hội Tề cai quản, lờ mờ tôi hiểu rằng Xã Trưởng là người quyền uy nhất trong làng, nhưng người có quyền bắt nhốt, đóng trăn kẻ phạm tội là Thầy Hương Quản. Nhà Thầy Hương Quản ở xa, phía bên kia sông, còn Xã Trưởng ở sát cạnh nhà tôi, có lẽ gia đình Xã trưởng và gia đình nhà tôi là hàng xóm lâu đời, ở một xóm khác, sau nầy mới mua đất cất nhà gần nhau, do chỗ hàng xóm xưa nên tôi gọi anh ta bằng anh, còn vợ Thầy Hương Quản có bà con với gia đình tôi, nên về vai vế tôi cùng gọi bằng anh.
Trong trí nhớ của tôi, Làng, tiếng gọi giản đơn Ban Hội Tề, có bắt dân làm sâu một lần, đó là đào con kinh xuyên qua Cù lao, để đường thủy được thông thương từ Xép ra sông Hậu, cho thuận tiện việc giao thông đường thủy. Ngày nay, giao thông đường thủy không cần thiết, nên con kinh đang được san lấp, để phân lô cấp nền nhà.
Sự kiện nầy, đến nay những hình ảnh thanh niên đào kinh, thợ mộc làm cầu vẫn còn trong tâm trí tôi nhưng nó đã mờ nhạt, vì lúc đó tôi còn khá nhỏ, chưa được đi học ở ngôi trường làng với 3 lớp học, tường xây tô, mái ngói móc.
Thỉnh thoảng nhà có đám cưới, hỏi có nhiều người tới dự, chủ nhà trang hoàng, che rạp, người ta cũng treo một lá cờ “Tam tài”, xanh dương, trắng, đỏ. Sau nầy tôi mới biết đó là cờ của Pháp.
Rồi Nhựt đảo chánh Tây, rồi ngày Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trong làng, Ban Hội Tề ngưng hoạt động, các Thầy giáo đóng cửa Trường về quê hay theo kháng chiến. Riêng có thầy dạy lớp Nhì, được gọi là Thầy Nhì Thạnh, vì tên của thầy là Châu Văn Thạnh, đứng ra điều khiển Thanh Niên Tiền Phong, hô hào trai tráng vót tầm vong vạt nhọn, vào hàng ngũ, tập dượt đi đều bước, có người điều khiển đếm: một, hai, một, hai… Họ thường tụ hội trong vườn cây dầu của gia đình tôi, vì nơi đó có bóng mát. Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì “Tây trở lại”, thỉnh thoảng ban ngày, có những cuộc bố ráp, có anh Hương Quản đi cùng, có khi lính “lê dương” chỉ xét hỏi, có khi chúng bắt đem về chỗ tập trung, rồi cũng thả.
Cờ Thanh Niên Tiền Phong
Thời nầy, ban ngày thuộc Pháp, nhưng ban đêm thuộc về cách mạng, nhưng ngày đó gọi là Việt Minh. Mặc dù ban ngày trên lộ đá có xe than chạy, dưới sông có tàu đốt than chạy, tàu dòng theo những chiếc ghe chài, thành một dòng khá dài chừng 2, 3 chục chiếc ghe. Trên sông, những “thây ma” trôi lình bình, tha hồ cho tôm, tép, cá rĩa ăn. Do đó có danh từ “mò tôm”, để chỉ cho những người bị thủ tiêu, vì thù oán, vì chánh kiến bị giết chết, rồi bỏ trôi sông. Do đó, nguồn nước uống bị ô nhiễm, muốn uống nước sông, người ta phải đun sôi.
Trong lúc xã hội bất an, nhân tâm ly tán, mạng người sống chết rẻ như bèo. Người dân chỉ còn biết dựa vào niềm tin, để trấn an sự sợ hãi. Lúc đó đạo Phật do Huỳnh Phú Sổ truyền bá ở miền Tây ngày càng lan rộng.
Huỳnh Phú Sổ là con trai của ông Huỳnh Công Bộ, một vị Hương Cả ở làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo từ ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Mão (ngày 4-7-1939), khuyên tín đồ ăn chay, niệm Phật, làm lành, lánh dữ. Huỳnh Phú Sổ xiển đương đạo Phật tại làng Hòa Hảo nên được gọi là Phật Giáo Hòa Hảo. Tôn chỉ là niệm Phật, chẳng khác với Tông Tịnh độ. Tín đồ tôn xưng là Huỳnh giáo chủ
Do Huỳnh Phú Sổ thực hành tu pháp tu giống như Đức Phật Thầy Tây An, cho nên nhiều tín đồ PGHH tin rằng Huỳnh giáo chủ là hậu thân của Đức Phật Thầy Tây An.
Thời gian hành đạo, Huỳnh giáo chủ đi khắp miền Hậu Giang giảng đạo, tín đồ đi nghe giảng đông hàng nghìn, cho nên thường tổ chức nơi công cộng như ở nhà lồng chợ hay nhà Tín đồ có sân rộng, thực dân Pháp sợ ảnh hưởng của Ngài, năm 1940, đem an trí Ngài trong nhà thương Chợ Quán, giữa năm 1941 đưa Ngài đi biệt xứ ở Bạc Liêu, đến cuối năm 1942 lại đưa Ngài trở về Saigon. Vào ngày 21-9-1946, Ngài lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xã Ðảng. Ngài tham gia Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, vào mật khu ở Miền Ðông với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.
Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Phú Sổ đến Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo,  do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tân Phú, Ðốc Vàng, tỉnh Long Xuyên, ngay trong phiên họp, họ đã tắt đèn và nổ súng, cận vệ của Ngài chạy thoát về báo lại, ngay đêm đó, có thủ bút của Ngài viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng PGHH như sau:
Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyển Giác Ngộ;
Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vĩnh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vĩnh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biét chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.
Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hảy đóng quân y tại chỗ.
Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vĩnh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.
Phải triệt để tuân lịnh.
Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm
Ký tên: S
Từ đó người ta không có tin tức về Ngài, có lẽ Việt Minh đã hảm hại Ngài sau khi đã viết lá thư đêm đó. Ngài mới có 27 tuổi. Ngài chẳng những là một vị giáo chủ PGHH mà còn là một lãnh tụ quốc gia chân chính, tiến bộ, nhiệt tâm yêu nước.
Theo tài liệu của Tây phương và Việt Nam Cộng Hòa thì giáo chủ Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh thủ tiêu.
Do thời đó quân đội Pháp không đủ lực lượng để giữ an ninh, trộm cướp xãy ra thường xuyên, nên giáo phái Hòa Hảo có lực lượng vũ trang, để gìn giữ an ninh trong làng xóm. Ở Cái Vồn, Cần Thơ có lực lượng Hòa Hảo của Trần Văn Soái; ở Ô Môn, Cần Thơ có lực lượng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt; ở Chợ Mới, Long Xuyên có lực lượng Nguyễn Giác Ngộ; ở Cái Dầu, Châu Đốc có lực lượng Lâm Thành Nguyên tức Hai Ngoán. Sau khi Hu ỳnh giáo chủ mất tích các lực lượng nầy cộng tác với nhà cầm quyền Pháp, cho đến khi Ngô Đình Diệm Chấp chánh, chánh phủ Việt Nam dẹp các lực lượng vũ trang, trước tiên là Bình Xuyên tại Sàigòn, kế đó các lực lượng vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo đều trở về hợp tác với chánh phủ, trừ có lực lượng Lê Quang Vinh, sau ông bị bắt tại Chắc Cà Đao (Bình Hòa), Long Xuyên, ngày 13-4-1956, bị đưa ra tòa Đại hình ngày 11-6-1956, tòa Thượng thẩm Đại hình ngày 26-6-1956, ra tòa án quân sự ngày 3-7-1956, cả 3 tòa đều kết án tử hình, án lệnh được thi hành ngày 13-7-1956 bằng máy chém Gouillotine của Pháp, do Đội Phước thi hành.
Trước năm 1950, do trường làng không có thầy giáo, nên tôi phải sang sông học trường làng bên đó, cũng chỉ học được vài tháng rồi thầy giáo đóng cửa Trường. Sau đó tôi học tư, tại ngôi trường làng, từ ngôi Trường nầy, tôi xuống tỉnh Long Xuyên thi đậu bằng Sơ Đẳng Tiểu Học.
Năm sau cùng của chánh thể Quốc Gia Việt Nam 1954. tôi được đi học lại, ngồi lớp Nhì Trường nam Tiểu học Châu Đốc. Thời đó trường làng chỉ dạy tới lớp Ba, trường tỉnh hay quận lỵ mới có lớp nhì, lớp nhất. Ngay tỉnh lỵ Châu Đốc chỉ có Trường Trung học Đệ Nhất Cấp, dạy tới lớp Đệ Tứ, thi Trung học Đệ Nhứt Cấp mà thôi.
Tôi còn nhớ, những ngày đầu tôi lên Châu Đốc, quân đội Pháp còn đồn trú trong một cơ sở cạnh Bưu Điện, họ chỉ ở trong trại lính đó mà thôi. Hè năm 1956, tôi được đi dự trại Hè tại Vũng Tàu, xe chạy ngang qua sân bay Vũng Tàu, thấy phi cơ, xe nhà binh và quân nhân Pháp vẫn còn sinh hoạt ở đó. Đây là điểm cuối cùng quân đội Pháp tập trung để rút quân về nước, thi hành theo Hiệp định Genèvre 1954.
Ngày 23-10-1955, có cuộc Trưng cầu dân ý, truất phế quốc trưởng Bảo Đại, đến ngày 26-10-1955 miền Nam thiết lập thể chế Việt Nam Cộng Hòa, cho đến 30-4-1975 trong 20 năm đó, tôi đã sống và trải qua những ngày tốt đẹp nhất cuộc đời mình.
Tôi được miễn thi Tiểu học, thi đậu vào Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, Trung học Kỹ thuật Cao Thắng, tôi được chú tôi cho lên Sàigòn theo học tại Trường Cao Thắng.
Sau khi lấy được Tú Tài toàn phần kỹ thuật, tôi thi đỗ vào Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, trong thời gian học tại đây từ năm 1964-1966, tôi cũng ghi tên theo học Phân Khoa Văn học và Khoa học Nhân Văn thuộc Viện Đại Học Vạn Hạnh vừa mới thành lập, tôi đã tham gia thành lập Tổng hội Sinh Viên Vạn Hạnh. Niên khóa 1964-1965, tôi giữ chức Phó Chủ tịch Nội Vụ, vì Chủ tịch bị truất phế nên tôi Xử lý Thường vụ Chủ tịch, Niên khóa sau, tôi giữ chức Phó Chủ tịch Ngoại vụ, trong Ban Chấp Hành, Giáo sư Khoa học Đại học đường Cao Ngọc Phượng là Chủ tịch, anh Đỗ Văn Khôn là Tổng Thư Ký, chị Nhất Chi Mai là Thủ quỹ.
Thời gian nầy là thời gian người ta dễ dấn thân vào con đường chính trị, tôi đã được tòa Đại sứ Mỹ vài lần mời tới dự những buổi tiếp tân của họ, nhưng tôi né tránh, cũng có người rủ tôi vào trong bưng để ra Bắc, sau đó sẽ được du học ở Liên Xô, nghe thấy viễn ảnh tốt đẹp, nhưng tôi từ chối.
Sau khi ra Trường CĐSPKT, tôi chọn nhiệm sở Banmêthuộc, đây là Trường Kỹ Thuật do viện trợ Mỹ đài thọ, để đào tạo thợ cho các dân tộc thiểu số như người Chăm ở Ninh Thuận, người Thái ở Tùng Nghĩa, Đà Lạt và ở làng Hòa Bình Banmêthuộc và những sắc dân Thượng như Radhé, Koho, Stieng… ở Banmêthuột, Gia Lai, Kontum, Pleiku …. Cho đến nay tôi vẫn còn thớ tới những em học sinh như Não Minh Tròn, Linh Ký Nam, Y Tlung, Thạch Văn Mè …
Trường là lớp học nghề thời Pháp, nằm trong khu vực Trường Tiểu học Tỉnh lỵ, được viện trợ Mỹ xây cất, với sức chứa 200 học sinh nội trú, gồm có một Đại sảnh đường, thông với 3 lớp học, một Giảng đường có sân khấu, một Thư viện, một phòng y tế, các phòng hành chánh và một dãi ký túc xá, tầng trệt có nhà bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh; tầng trên có phòng ngủ tập thể, có phòng tắm; tầng trên cùng chỉ có một khoảng ngắn thiết kế 3 phòng, gồm một phòng rời, hai phòng liên kết, ở giữa phòng rời và hai phòng liên kết có cầu thang và nhà tắm nhà vệ sinh chung.
Thời gian tôi sống ở Banmêthuột từ năm 1966-1970, nơi đây có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, có kho đạn, nhưng không an ninh, do đó tôi chỉ đi loanh quanh trong Thị xã, như đi chợ, đi chùa Khải Đoan, có lần đi cắm trại với vài em học sinh ở khu Lâm viên quốc gia, là nơi trồng những cây sao, cây giá tị gần phi trường Phụng Dục. Có lần đi vào đồn điền của gia đình em Trí hay đến nhà Linh Ký Nam chơi rồi đi tìm “cà-phê cức chồn”. Có lần được trực thăng đưa đi giữ thùng phiếu đặt trong khu vực Nhà máy điện, nơi đây có 3 turbine của Pháp chạy bằng thác nước, đủ cung cấp điện cho thành phố Banmêthuột thời bấy giờ.
Tháng Giêng năm 1968, tôi bị động viên đi khóa 27 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Những ngày nằm chờ ở Trung Tâm 3 Nhập ngũ Hóc Môn, hình ảnh khó phai là vào buổi trưa khó ngủ, Trịnh Công Sơn gầy gò ngồi trên chiếc chiếu, trải trên đường nhựa, dưới tàn cây bả đậu, ôm cây đàn guitar miệng hát nghêu ngao những bài của anh ta sáng tác, sau nầy gọi là dòng nhạc phản chiến, chỉ có đôi ba người ngồi nghe. Rồi vào buổi trưa ngày 12-1-1968, xe đưa đến quân trường Thủ Đức, nhận quân trang, mặc quân phục vào, phút chốc trở thành người lính chiến, ngày học đêm canh gác nghiêm nhặt vì trận chiến Mậu Thân. Việt cộng không tôn trọng đình chiến, muốn dùng yếu tố bất ngờ để chiến thắng miền Nam. Khóa đó học đến tháng 8 ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, ngay sau đó có xe của Trường Quân Cụ rước về Trường ở Gò Vấp, theo học khóa Sĩ Quan Quân Cụ Cơ Bản, rồi tiếp theo Khóa Cơ Khí Ô Tô, một số học về Đạn Dược.
Ra Trường tháng 4 năm 1969, tôi được phân bổ về Vùng IV, sau đó được phân bổ về Đại Đội Quân Cụ thuộc Sư Đoàn 21, sau đó quân đội cải tổ thành lập Tiểu Đoàn Tiếp Vận, Đại Đội Quân Cụ trở thành Đại Đội Bảo Toàn, trong Đại Đội nầy có các Trung Đội Hậu Cứ, Trung Đội Sửa Chữa, Trung đội Quân Nhu, Quân Vận, Truyền Tin. To6i được phân bổ làm Trung Đội Trưởng đóng quân tại Thị xã Cà Mau, nằm trên sân Tennis trước Ty Tiểu học, cạnh Trung Đoàn 32.
Sau 1 tháng ở Cà Mau, tôi được thuyên chuyển về làm Trung đội Trưởng Hậu Cứ, đồn trú ngay trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nằm ở ngoại ô trên đường giữa Đài Phát Thanh Sóc Trăng và Thị xã, cách Chùa Dơi không xa.
Đầu tháng 9 tôi được biệt phái về Trường cũ, tôi được đơn vị trưởng giữ lại 10 ngày để vui chơi với bạn bè, sau đó được về Sàigòn hưởng phép 10 ngày nữa, rồi mới trở lại Trường Kỹ thuật Banmêthuột.
Trở về Trường cũ, tôi được đề cử giữ chức Phụ tá Học Vụ và Học Sinh Vụ đây là chức vụ của Trường Kỹ thuật Đệ Nhất Cấp, nó gồm có công việc của Giám học là phân bổ giờ dạy của giáo sư, theo dõi sự giảng dạy của các giáo sư ở lớp học; trông nom và điều hành học sinh về kỷ luật về sự học tập của các em. Điều hành các xưởng và trông nom việc học ở Xưởng do Phụ tá Kỹ thuật trách nhiệm.
Tháng 10 năm 1970, tôi được thuyên chuyển về Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Sàigòn.
Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Sàigòn có một lịch sử lâu đời nhất trong số các Trường kỹ thuật ở Việt Nam, do ngày trước quân đội Pháp sang Việt Nam bằng tàu thủy, đánh Đà Nẵng, Gia Định năm 1859 bằng tàu thủy, từ khi lấy 3 tỉnh miền Đông làm thuộc địa, họ đã thành lập cơ xưởng để sửa chữa tàu, rồi mở lớp đào tạo thợ tại địa chỉ 25 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp. HCM. Để mở rộng trường, một cơ sở mới được dựng lên, là chi nhánh, sau trở thành Trường Cơ khí Á Châu, nay là Trung học kỹ thuật Cao Thắng.
Tại địa chỉ 25 Nguyễn Thị Minh Khai đến năm 1945 bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng, sau đó quân đội Pháp tiếp thu, chia ra làm 2 phần, một phần giữ làm cơ quan Cảnh sát Quận 1, phần còn lại trả cho trường có địa chỉ 25 bis Nguyễn Thị Minh Khai. Sau Tết Mậu Thân, Trường bị Tòa Đại Sứ Mỹ lấy vì vấn đề an ninh, đền cho Trường cơ sở Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Trong khi chờ đợi xây cất cơ sở mới, Trường dời tạm về khuôn viên Nha Kỹ Thuật Học vụ. Đến năm 1972 việc xây cất hoàn thành, trường tiếp nhận cơ sở mới, nhưng sau đó nhường hẳn cơ sở nầy cho Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, Trường ở luôn tại khuôn viên Nha Kỹ Thuật với địa chỉ 55C Tự Đức, Quận 1, Tp. HCM.
Tôi về đây dạy học và tiếp tục học trở lại ở Đại học Vạn Hạnh. Năm 1973, tôi tốt nghiệp Cử nhân Văn học Việt Nam, năm sau lấy chứng chỉ Cao học I VHVN. Được Bộ Văn hóa Giáo dục bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường nầy. Trường Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ là Trung học Kỹ thuật Đệ nhị cấp, Giáo sư và nhân viên của Trường tổng cộng khoảng 80 người. Học sinh từ lớp 8 cho đến lớp Đệ nhị gồm 16 lớp, có khoảng 600 học sinh. Trường có 1 Thư viện, 2 văn phòng, 9 phòng học, 6 xưởng dạy nghề gồm có: Nguội, Máy dụng cụ, Cơ khí Ô tô, Kỹ nghệ Sắt, Kỹ nghệ Gỗ, Điện.
Gần đây có thì giờ nhìn lại, tôi thấy mình chỉ làm tròn nhiệm vụ của một người thầy giáo và hiệu trưởng chuyên nghiệp, chớ chưa làm tốt trong nhiệm vụ của mình, do tuy đã xuất thân từ trường Sư phạm, nhưng nơi đó người ta không trao truyền kinh nghiệm của nhà giáo, cũng không dạy về chức trách của một người Hiệu trưởng đối với Giáo sư, nhân viên và học sinh.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chấm dứt thể chế Cộng hòa ở miền Nam. Cộng sản đã chiếm cả miền Nam, họ dẫm lên Hiệp định Paris ký kết vào tháng Giêng năm 1973. Việt Nam Cộng Hòa đã bị khai tử sau khi nó sống gần trọn vẹn 20 năm ở miền Nam, đem lại cho người miền Nam hiểu thế nào là TỰ DO.
Từ khi còn là học sinh cho đến khi đi dạy học và là sĩ quan, tôi được đi và sống ở những nơi như Vũng Tàu, Lộc Ninh, Banmêthuộc, Huế, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau. Mặc dù tôi sinh trong tỉnh Long Xuyên, thi Sơ học ở Long Xuyên, nhưng tôi không có học ở trường tỉnh Long Xuyên ngày nào. Tôi có đi tắm ở bãi biển Thuân An, có tham quan cầu Hiền Lương, nơi chia đôi Nam Bắc.
Khi Cộng sản chiếm miền Nam, tôi vào tuổi “Tam thập nhi lập”, vậy mà tôi đã bị đi “học tập cải tạo” trong “Mười ngày” ở Trãng Lớn và rừng Kà-tum thuộc tỉnh Tây Ninh. Vào trong trại cải tạo, đọc bảng biểu ngữ “Không có gì quí hơn Độc Lập, Tự do”, mới thấm thía ý nghĩ tự do.
Trong trại, anh em kể cho nhau nghe một ông tướng của Trung Hoa Dân Quốc bị đi học tập từ năm 1949 đến nay chưa về, nhiều hạ sĩ quan quân đội Pháp bị quản chế từ năm 1954 đến nay chưa được quyền công dân và anh em nhắn nhủ nhau, khi nào “học tập tốt được cho về”, cố gắng bám lấy Sàigòn mà sống, vì dù sao nơi đó cũng là nơi tai mắt quốc tế, nhà cầm quyền cộng sản sẽ phải nương tay. Nhận định đó cho đến nay vẫn đúng. Các Tổng Thống Mỹ Bill Clinton, Barack Obama, Tổng Thống Pháp Francois Hollande, đến Việt Nam sau khi ghé thủ đô Hà Nội, họ vào Sàigòn thăm viếng thành phố nầy, vì Sàigòn đã dược mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông, còn thành phố Hồ Chí Minh chưa nghe nói tới.
Sau hơn 2 năm học tập cải tạo, tôi được tạm tha “hồi hương lập nghiệp” ở xã Phú Hòa huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Mặc dù tôi sinh ra ở nhà quê, nhưng tôi chưa hề chăn bò, cày sâu, cuốc bẳm, về quê sinh sống bằng cách nào ? Còn vợ, còn con. Do đó tôi tìm cách để ở lại Sàigòn. Nhạc gia tôi, “nhứt thân nhì thế” đã tìm cho tôi một chỗ làm nơi Sở Lao Động thành phố, năm sau tôi bị chuyển tới một cơ quan thuộc Sở Công nghiệp, nơi đây lại đưa tôi về trường cũ một thời gian. Tại trường cũ nhưng môi trường đã khác, người thầy giáo dạy để kiếm sống, trong thời bao cấp “củi quế, gạo châu”. Nhớ có lần về quê, khi trở lên Sàigòn, tôi mang theo 2 bao cát đựng gạo, lúc xe đi ngang qua trạm “Tân Hương” ở địa phận Tân An, đã bị họ tịch thâu, trong khi trên mui xe chất đầy những bao đựng gạo 50 kg. Con voi chui qua lỗ kim lọt, nhưng sợi tóc thì không !
Thời gian nầy, tôi thiết kế nhà máy đường công suất nhỏ, rồi làm Trưởng phòng Kinh tế Kế hoạch cho Công ty, tôi đã đi giao dịch với những nơi để lắp đặt nhà máy đường như Tây Ninh, Long Phú thuộc Sóc Trăng, Chợ Mới tỉnh An Giang, Long Toàn thuộc Trà Vinh, Mỹ An Hưng huyện Lấp Vò, Ngã Sáu thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Hóc Môn. Nhà máy giấy ở Kiên Giang, ở Nam Vang. Nhà máy bột khoai mì ở Tịnh Biên, nhà máy ép dầu dừa ở Bến Tre. Có những chuyến đi cuốc bộ khoảng chục cây số vào ban đêm, ngủ bờ ngủ bụi khi làm việc với những huyệp Lấp Vò, Tháp Mười, Long Phú.
Có thời gian tôi đi dạy ở Đại học Sư Phạm Kỹ thuật Thử Đức, nhưng vừa dạy vừa đi làm ở tỉnh, đi lại bất tiện, tuy có giấy giới thiệu nhưng cũng phải xếp hàng rồng rắn, mất rất nhiều thì giờ, do đó tôi bỏ dạy, để chuyên trông nom việc lắp đặt máy ép dầu ở xí nghiệp 1 tháng 5 Bến Tre.
Đầu tháng 4 năm 1991, tôi rời khỏi Việt Nam, đáp máy bay Hàng không Việt Nam sang Bangkok, vào nhà tù của Bộ Nội Vụ Thái Lan ở 1 tuần, mỗi ngày ăn cơm trắng với 3 cái hột gà cho sáng, trưa, chiều.
Ngày 9-4-1991, gia đình tôi đặt chân trên đất Mỹ tại phi trường Seattle, Washington State, ngủ đêm đầu tiên ở khách sạn Holiday Inn tại Minneapolis, Minnesota, hôm sau đáp chuyến bay tới phi trường Saint-Louis, Missouri rồi chuyển qua phi cơ nhỏ về Louisville, Kentucky.
Tôi đã định cư tại đây từ đó tới giờ. Đi làm nhiều công ty khác nhau, có công ty làm về thức ăn, có công ty làm về thiết bị. Có thời gian, tôi đi học ở College, đồng thời đi dạy học, có thời gian ngồi ở văn phòng, sử dụng computer để thiết kế những cơ phận, những thiết bị cho ngành hỏa xa.
Năm 1991, trong thời gian làm việc ở trường học, tôi được cho đi học một khóa sử dụng computer khoảng 20 giờ, sau đó tôi tự học để làm báo, làm Web. Được vài anh em trẻ giúp đỡ, từ năm 1995, tôi đã chủ trương làm báo Phật Học biếu cho những ai cần đọc, đến 2009 báo Phật Học không còn in ra giấy, nhưng vẫn còn phổ biến hàng tháng trên Mạng, dưới sự chủ trương của Phật Học có ấn tống được 5 quyển sách, có vài độc giả ở trong tù gửi thư xin báo, chúng tôi gửi hàng tháng cho họ từ nhà tù nầy sang nhà tù khác.
Năm 1975, chú tôi dạy tôi rằng, cuộc chiến vừa qua “Bất chiến tự nhiên thành”, nhưng sẽ còn một lần nữa cũng “Bất chiến tự nhiên thành”.
Tôi đã được sống, những ngày còn thơ ấu dưới thời Tây cai trị nước ta, thời Việt Minh cướp chánh quyền, giặc giả loạn lạc tứ tung, gạo không xuất cảng được, ruộng đồng bỏ hoang hóa, hàng hóa không nhập được, không có vải vóc may quần áo, người có của may mặc vải ta, người nghèo khó phải mặc bao bố, cho nên sau khi “giải phóng miền Nam”, khỏi sự kềm kẹp và bóc lột của Mỹ nguỵ, dân miền Nam được ăn “cao lương” được mặc vải phiếu, còn có cái ăn, cái mặc hơn là chết đói hang triệu người ở miền Bắc và mặc bao bố ở miền Nam năm 1945.
Ở Mỹ không phải là thiên đường, tôi phải đi làm 14 năm, rồi về hưu, nay sống bằng đồng lương hưu. Ở Việt Nam trước 1975, tôi đi làm 9 năm cho chánh quyền, sau 1975 tôi làm 13 năm, nay không có đồng xu ten nào cả ! Tôi nói nước Mỹ không phải là thiên đường, vì có rất nhiều người “homeless”, tức nhiên là họ không có nơi ăn chốn ở, có người đứng ở đầu đường, xó chợ xin ăn. Họ không gặp Cảnh sát, nếu gặp Cảnh Sát sẽ hốt họ liền, vì không được phép xin ăn, muốn xin tiền, gây quỹ phải có phép của nhà chức trách. Bên cạnh đó, có nhiều hội từ thiện, xin tiền của những nhà hảo tâm, cung cấp những phần ăn cho người “vô gia cư”, nghèo khó, già cả, neo đơn.
Nhìn lại những năm 1945 và 1975, dĩ nhiên là không giống nhau. Sau 1945, người dân ban đêm sợ bị trộm cướp bị bắt cho đi mò tôm, còn 1975 người ta không sợ cho tánh mạng của mình, nhưng cái ăn luôn luôn bị thiếu thốn, người dân phải lo ăn, có người cho rằng nhà cầm quyền dùng chánh sách bao tử để điều khiển người dân, không biết đúng hay sai, nhưng ngày nay hình như tham nhũng là kế sách để mọi người phải bảo vệ quyền lợi của mình, tức là bảo vệ tập thể. Đó là kế sách hay nhất, hữu hiệu nhất. Nhưng một định luật bất biến, bất cứ cái chi khi nó lên đến tột đỉnh, đương nhiên nó sẽ tuột xuống.
8664270916


Sunday, February 28, 2016

Tết đến



Tết đến tưởng rằng Xuân cũng đến
Nhưng mà Xuân thật hãy còn xa
Hương Xuân chỉ có hoa và bánh
Tết đến vui nào cho chúng ta ?
*
Tết năm nay vui nhiều hay ít ?
Người năm nay mong được an lành
Nhà nhà chốn chốn tịnh thanh
Kẻ già người trẻ hanh thông cuộc đời
866422022016

Monday, April 6, 2015

Khi tôi chết



Khi tôi chết
thương tôi xin đừng khóc
Chút tình riêng
xin gửi gió trăng
Quên đi
quên hết mọi niềm
Nhớ thương rồi cũng
Chẳng còn gì nhớ thương!

Với vợ con
Cũng đừng thương tiếc
Để cho tôi rời bỏ xác thân
Nhẹ nhàng thanh tịnh lìa trần
Bao nhiêu thương nhớ dần dần sẽ phai.

Với bạn hữu
Xin quên đừng nhớ
Tôi nợ người xin hãy bỏ qua
Người nợ tôi xem đó là quà
Kẻ dư cho người thiếu mới là đạo nhân.

Tôi đã lỡ
Những cuộc tình không trọn
Để trong tôi những nổi nhớ thương
Xuôi tay nhắm mắt đôi đường
Tôi buông bỏ hết
Người vấn vương làm gì ?

Xin cho tôi
để lại một lời
Sống sao cho phải đạo làm người
Người thân, kẻ lạ tốt đều như nhau.

Mây vẫn bay
Trời trong
Trăng sáng
Tôi chết rồi cây cỏ vẫn xanh tươi
Buồn làm chi nhỉ ?
Hãy để buồn theo gió
Như chiếc lá lìa cành
Rơi rụng
Theo gió cuốn bay đi.
 
26-III-2015

Sunday, March 15, 2015

Thư tình mực tím


So là tên cô gái út của thầy giáo Chính, thầy vừa mới được tỉnh thâu dụng để bổ về trường. Làng tôi cũng như một số làng khác có trường học, trường gồm một dãi ba lớp học, và một căn nhỏ dành cho Trưởng giáo ở. Hầu hết các trường đều được xây gạch, tô tường, quét vôi màu vàng và lợp mái bằng ngói móc đỏ.

Mỗi lớp có một dãi bàn dài ngồi được từ  sáu đến tám học trò. Bàn đóng bằng gỗ dầu hay gỗ sao dầy, trên mặt bàn có một tấm ván phẳng chạy dài suốt mặt bàn, bề ngang chừng sáu phân, trên đó người móc những lõm tròn, sâu vài ly để cho học trò để bình mực và những lõm hình chữ nhật hai đầu hình bán nguyệt ngang chừng bốn phân, dài gần hai tấc, cho học trò để bút chì, bút mực, phần còn lại của mặt bàn là tấm ván dài suốt, bề ngang chừng ba tấc, hơi nghiêng về phía học trò, dưới mặt bàn cũng là tấm ván, phía trước là tấm ván cao chừng một tấc, hai đầu cuối cùng là hai tấm ván, có  sáu chân, tất cả tạo thành cái bàn có ngăn cho học trò để sách vở, lại có tấm ván dài khác cũng dầy chừng hai phân có sáu chân, cao chừng nửa thước để làm cái băng ngồi, bàn và băng ngồi được đóng ghép chung lại nhờ ba thanh ngang và hai thanh dọc nằm trên nền gạch, tạo thành cái bàn học rất nặng, học trò không thể đùa nghịch vô tình làm cho nó hư hỏng.  


Từ năm 1945, trường làng tôi đã bị bỏ hoang, Trưởng giáo gia nhập Thanh Niên Tiền Phong, còn hai thầy giáo khác nghe nói cùng bỏ trường về quê của họ.

Nhà tôi gần trường, ông thân tôi là hương chức làng, vì thời cuộc năm đó, tất cả hương chức đều đứng chung đơn từ chức, nhưng các thầy giáo trước khi đi, họ đem chìa khóa lớp học giao cho ông thân tôi giữ. Có vài lần, ông thân tôi đưa người quen đi thăm lớp học, tôi được đi theo nên thấy trên tường có những bức tranh nào là cảnh bến tàu Sàigòn, cảnh một buổi chợ ở vùng quê, cảnh tiễn đưa ở sân ga xe lửa …, trong tủ có vài món thủ công của học trò như cái cộ, cái trục, cái cày… có thứ làm bằng tre, có thứ bằng gỗ.

Có lúc anh tôi cùng người bạn lấy trường mở lớp dạy tư, dạy được vài tháng anh tôi bỏ trường, bỏ nhà lên Sàigòn lập thân, còn bạn của anh tôi cũng lên Sàigòn lập thân một thời gian rồi trở về quê, sắm ghe máy theo kinh rạch miền Tây, hành nghề “bán thuốc sơn đông mãi võ”.

Theo đó, một người bà con lối xóm lấy trường, mở lớp dạy tư, học trò theo học cũng bộn. Vì thầy giáo dạy tư ấy thứ Hai, dạy cho những con, em trong xóm nên học trò gọi thầy là anh Hai, là chú Hai, là bác Hai trừ vài ba đứa ở xứ khác theo cha mẹ tản cư đến, nên gọi đúng là Thầy. Tôi gọi là chú Hai.

Năm đó, chú Hai tổ chức đưa một số học sinh xuống tỉnh đi thi, chú mướn một chiếc ghe, thuê một người chèo ghe ấy, chú đưa một số học sinh đi thi, tôi có người quen, nên đi xe đò xuống tỉnh, ở nhà người quen đi thi. Sau kỳ thi đó, chú xin được Ty tiểu học tỉnh, làm Thầy giáo lãnh lương nhà nước, được bổ dụng dạy tại trường làng cùng lúc với Thầy giáo Chính, do đó trường có hai thầy cùng dạy ở bước đầu.

Thầy giáo Chính, nghe nói quê ở Chợ Mới, Thầy đến nhận việc đem theo cả gia đình với chiếc ghe nhỏ có mui mái vòm, lợp lá. Gia đình Thầy có hai con trai và ba con gái, những con Thầy là anh Quân, anh Quan, chị Liệt, chị Tuyết đều lớn tuổi, không còn đi học nữa. anh Quân với anh Quan hằng ngày mỗi người ôm một chồng chiếu sáng đi bán, đến chiều tối mới về. Chị Liệt, chị Tuyết ở nhà giúp thím giáo đi chợ, nấu ăn. Chỉ có cô con gái út tên So chừng mười một, mười hai tuổi nên còn đi học. Hai anh con trai vóc dáng bình thường, chỉ có mấy cô con gái nước da trắng, gương mặt đẹp, nhưng cô con gái út thì đẹp hơn hết, nước da đà trắng hơn hai chị, miệng nhỏ, môi lại đỏ như son, mũi thon nhỏ, đô mắt tròn và đen. Họ ăn uống trên ghe, đậu ở bến sông của chú Hai, là bạn đồng nghiệp, là người quen duy nhất của Thầy Chính, mỗi bữa họ ăn uống trên ghe, tối một số ngủ ở ghe, một số tá túc nơi nhà chú Hai.

Lúc tôi còn nhỏ nhà tôi và nhà chú Hai cách nhau chỉ một căn nhà khác, mấy căn nhà là bà con, họ hàng nên không có hàng rào, đi qua đi lại thông thương, khi tôi lên năm tuổi cha tôi mới dọn về nhà mới, cách trường vài chục thước, cách nhà cũ để lại cho chú tôi ở chừng ba trăm thước, nên tôi vẫn thường về nhà cũ, chơi với mấy thằng con chú tôi và con của chú Hai, nhờ đó tôi được biết gia đình Thầy giáo Chính.

Chú Hai làm Trưởng giáo, dạy lớp trên, có hai trình độ khác nhau, tôi chưa có bằng Sơ học học với chú, có bằng Sơ học rồi cũng ngồi lại lớp học với chú, trong lớp cả con trai với con gái học chung, cô So học lớp nầy.

Thầy giáo Chính dạy lớp vở lòng, lớp học của Thầy đông học trò, tiếng ê a, tiếng thầy gõ roi lên bảng vang dậy cả ngày, tôi không học với Thầy ngày nào, nên không rõ tánh tình của Thầy ra sao, nhưng theo phán đoán Thầy giáo Chính trầm tĩnh hơn chú Hai.

Tôi nhớ, có lần thằng Bê là dân tản cư, có ghe gia đình hắn đậu ở bến sông trường bên kia sông, nhưng trường đó không có thầy dạy, nên hắn ngày ngày phải qua học với chú Hai. Vì nhà nghèo, hắn đi học mang theo thùng kẹo kéo, ra chơi hắn ra sân bán cho học trò để kiếm tiền cho gia đình, hắn kém thông minh, ban đêm tôi thường nghe hắn học bài từ bên kia sông dội đến nhà tôi bên nầy sông, cách nhau không dưới năm mươi thước, vậy mà sáng ra chú Hai gọi hắn trả bài, hắn không thuộc, có lần chú giận quá vớ ngay cái dùi trống trên bàn thầy giáo, đánh vào lưng hắn mấy cái như chú thường đánh cái trống của trường đặt bên cạnh bàn của chú.

Một lần khác chú giận thằng Đơn vì tội không thuộc cửu chương, chú đánh bằng cây thước kẻ hàng gỗ mun có cẩn thau ở bốn góc, thằng Đơn bị tét gò má. Giờ ra chơi, hắn nhờ tôi về nhà lấy cho hắn chút muối bọt, đắp vào chỗ bị thương cho tan máu bầm. Thầy giáo xưa trên bực cha mẹ, vì xã hội tôn trọng đạo thánh hiền đã dạy: “Quân Sư Phụ”.

Chú Hai là Trưởng giáo, có nhà cửa nên nhường căn phòng Trưởng giáo ở trường cho gia đình thầy giáo Chính ở, lúc nầy tôi đã thôi học, hằng ngày không còn gặp cô So ở trong lớp nữa, tuy là cùng xóm, đi qua đi lại còn gặp nhau, nhưng không có chuyện trò như lúc còn cùng lớp, cùng trường.

Tôi cũng không có chơi thân với các anh, các chị của So nên tôi không thể đến trường để gặp So trò chuyện, có những lúc tôi chợt nhớ khuôn mặt đẹp của So, giọng nói nhỏ nhẹ ngọt ngào, tôi nghĩ như trong tiểu thuyết đã đọc được, để biết rằng tôi đã yêu So.

Tuổi trẻ luôn có những vụn dại, vì thầm yêu, trộm nhớ cho nên tôi muốn cho So biết rằng tôi yêu nàng, nhưng không có dịp để nói, mà chắc như có dịp cùng không dám nói, nên tôi đã viết thư bày tỏ tấm lòng của tôi với So, rồi tôi nhờ chú út Thửng là người thường lui tới trường, có khi giúp công việc nặng nhọc mà anh Quân hay anh Quan thường không có ở nhà. Tôi tin chú sẽ không đọc thư, tôi gọi bằng chú vì là bà con, nhưng chú chỉ lớn hơn tôi một tuổi, không được thông minh, vì thời cuộc nên bị thất học, chú chỉ biết đọc được mặt chữ thôi, tôi cẩn thận dặn dò chú:

- Thư tôi gửi cho cô So, đưa tận tay cô So, đừng cho ai thấy nghe.

Chú lấy thư bỏ vào túi áo, cười đáp gọn:

- Ừ ! Đừng lo tao đâu có ngu mậy !

Mặc dù vậy, tôi tin chú nhưng rất hồi hộp, nghĩ chẳng may bị chị cô ta bắt gặp, hoặc cô ta không yêu tôi, rồi đem lá thư đầy lời yêu thương ấy cho người khác đọc, họ sẽ bêu xấu tôi thì sao ?!!

Ngày hôm sau chú Thửng đến nhà, gặp tôi chú cười trên nét mặt bảo:

- Ăn xoài chín cây không ? Đi theo tao !

Tôi biết nhà chú có mấy cây xoài, đang mùa xoài, nhưng xoài chín cây chỉ là cái cớ, để kéo tôi ra khỏi nhà. Theo chú ra tới cổng, chú móc túi đưa cho tôi lá thư, nói nhỏ vừa đủ nghe:

- Nó đưa cho mầy lá thư đây !

Tôi hỏi thêm:

- Có dặn gì nữa không chú út ?

- Không chỉ có vậy. Thôi tao dìa nghe.

Chú út Thửng về rồi, tôi đi vào nhà lòng hồi hộp từng giây phút, lo nghĩ mình có được cô nàng yêu thương không đây ?

Nhà trước không có ai, cha tôi đi khỏi, còn mẹ tôi với hai chị đang lo cơm nước bữa trưa trong bếp, tôi lấy quyển thơ Lục Vân Tiên mở ra bỏ thư của nàng vào rồi leo lên võng nằm đọc thư của nàng viết mực tím trên tờ giấy học trò.

Anh Thanh,

Từ lâu em nghĩ rằng anh chỉ để ý tới em cũng như mấy cô gái khác trong lớp, trong trường nhưng bây giờ em mới được biết anh yêu em. Em mừng vô cùng, anh Thanh biết không ? Vì em cũng yêu anh.

Trong nhà, trừ ba má em với anh Quân và anh Quan, còn chị Liệt và chị Tuyết thỉnh thoảng lại nói về gia đình anh cho nên em cũng nghĩ đến anh, vài hôm mà em không trông thấy anh đi qua nhà em cũng nhớ hình bóng anh, em nghĩ đó là chúng ta đã có thần giao cách cảm, nên thương nghĩ đến nhau.

Kể từ hôm nay, anh biết rằng em cũng yêu anh, nhưng anh yêu em thì để trong lòng, đừng nói với ai nghe anh, bạn của em hay của anh mà biết chúng sẽ cười mình đó nghe anh.

Em không có thì giờ, thư nầy viết vài dòng đáp lại thư anh, xin anh hiểu cho lòng em luôn luôn yêu anh, nghĩ đến anh.

Người yêu của anh.

S.

Đọc xong thư của So, lòng tôi mừng vô cùng, bởi vì tôi được biết cô nàng cũng yêu tôi, tình yêu của tôi được đáp trả. Tôi đem lá thư của nàng giấu kín để không cho ai tìm thấy.

Vài tháng sau, So đi học trường huyện, nàng và tôi không thường xuyên gặp nhau từ đó. Tôi nghĩ rằng So đẹp, lại đi học chỗ xa lạ sẽ có nhiều chàng thanh niên khác đeo đuổi. Người ta nói “xa mặt cách long”, một ngày nào đó tôi sẽ mất So. Nghĩ như thế lòng buồn vô hạn.

Rồi vài tháng sau, thân phụ tôi qua đời, tôi được gửi theo người chú ở tỉnh đi học lại, vài năm sau tôi rời tỉnh lên Sàigòn vào trường lớn, mặc dù Sàigòn đô hội nhưng hình ảnh So không phai nhạt trong lòng, tôi vẫy yêu So mỗi khi nhớ tới nàng. Còn thân phụ nàng, xin được đổi về dạy ở trường học gần nhà, nơi bến đò Bà Vệ, thuộc quận Chợ Mới. Do đó, gia đình nàng dời hết về quê.

Năm đó, năm đầu tiên học ở Sàigòn, nghỉ Tết tôi về quê, rủ người bạn đạp xe đi thăm thầy giáo Chính, thật ra đối với tôi là đi thăm để gặp lại So. Mặc dù cả hai đều không biết đường đi mà cũng không biết rõ địa chỉ vậy mà cũng đi. Từ chợ Xã Búng đi qua Thuận Giang, vòng xuống chùa Tây An, qua đò rồi đi qua Chợ Thủ, hỏi thăm người ta, không ai biết Thầy giáo Chính cả. Đi từ đứng bóng cho tới xế chiều, không tìm ra manh mối, thế là chúng tôi quay trở về. Lúc từ bến đò Bà Vệ đạp xe một đổi, thời may gặp anh Quan đi với mấy người bạn. Gặp nhau mừng không thể tưởng, anh Quan chỉ cho chúng tôi nhà anh ngay bến đò Bà Vệ phía bên kia, thế là chúng tôi trở lại gặp gia đình Thầy giáo Chính. Thầy giữ chúng tôi ngủ lại nhà Thầy, hôm sau ăn sáng rồi Thầy mới cho chúng tôi về. Gặp lại So thì có gặp, nhưng tôi không có cơ hội nói chuyện với nàng, trông So lại đẹp hơn xưa, là một nữ sinh thùy mị, dễ cảm mến hơn những ngày còn trẻ. Lần gặp nhau đó cũng làm cho tôi khuây khỏa nổi nhớ trong lòng, cho dù So có còn yêu tôi nữa hay không.

Bẵng đi một thời gian, tôi được tin So theo học Cao Đẳng Sư Phạm ở tỉnh, rồi cũng xin trở về quê dạy học. Sau đó, lập gia đình với một đồng nghiệp.

Ba mươi năm sau, biết bao vật đổi sao dời, lần đầu tiên tôi có công tác đi ngang qua nhà Thầy giáo Chính, nghĩ tới người xưa, tôi ghé lại thăm.

Gặp thím giáo, thím chỉ lên bàn thờ cho biết Thầy mất vừa mới mãn tang. Tôi xin phép thắp cho Thầy một nén nhang tưởng đến người xưa là bạn cố tri của thân phụ tôi.

Trong lúc thím giáo và tôi còn trò chuyện thì cô giáo So đến thăm mẹ, có hai con trai cùng đi theo, nhìn ba mẹ con, tôi đoán biết chắc là ở gần đó chớ chẳng xa. So cũng như tôi chỉ nhìn nhau mà không nói chi, trong lòng tôi một tình yêu xa xưa ùa về, tôi vẫn rung động như ngày xưa.

Phải chăng có mẹ và con ở đó, nên So bỏ đi ra ngoài. Thím giáo và tôi còn tiếp tục thăm hỏi nhau vài câu rồi tôi xin phép cáo từ.

Từ nhà thím giáo, tôi phải đi con đường nhỏ để ra lộ lớn, tôi thấy So đứng tựa cửa sau nhà người khác, để ý nhìn kỷ thấy nàng mặc quần hàng đen, áo bà ba màu vàng sậm, tóc cắt ngắn chỉ uốn dợn, nét mặt vẫn đẹp không cần trang điểm, phảng phất chút buồn, mặc dù đó là thời buổi khó khăn, củi quế gạo châu, vải khúc thời bao cấp, nhưng cũng chứng tỏ gia đình nàng sống được ấm no, chắc là hạnh phúc. Tôi đi ngang qua, chúng tôi không ai chào ai, không ai nói lời nào. Đó là lần cuối cùng tôi gặp nàng, cách nay cũng đã tròn ba mươi năm rồi.

Cách nay năm năm, chị tôi qua điện thoại, bỗng dưng cho tôi biết So đã mất rồi. Tình yêu của tôi và So chỉ có chúng tôi biết. Sao chị tôi vô tình cho tôi một cái tin không vui. Bới đóng tro tàn ấy làm cho tôi vô vàng nhớ tới So, tôi tự trách mình sao lần gặp cuối cùng ba mươi năm trước, không hỏi han, không nói với So tiếng nào ? Bây giờ muốn nói “Anh vẫn còn yêu em” không thể nói với nàng. So đã khép đôi mắt nhìn đời, vĩnh viễn nằm yên dưới lòng đất lạnh. Chắc gì mối tình xưa, mối tình đầu được khép kín ? Ít ra nó vẫn còn sống động ở trong tôi, nhất là mỗi lần nhớ tới So, nhớ tới những dòng mực tím tình đầu viết trên trang giấy học trò ngày xưa.
9-III-2015