Sunday, February 15, 2015

A Dậu



Nhà tôi cách ngôi trường làng có bốn căn nhà khác, đó là những căn nhà của bác tám Toán, ông bảy Đời, ông năm Phận, anh xã Chênh, những căn nhà kia đều là cột tre, vách lá. Riêng có nhà anh xã Lý Quốc Chênh là cột gỗ thao lao, vách đóng bổ kho, mái lợp ngói móc. Nhà của cha tôi tuy cột gỗ, nhưng vách lá mái lá, vì ở vùng nước nổi nên mấy căn nhà trên là nhà sàn, trừ nhà ông bảy Đời nền đất như nhiều căn nhà khác.

Khi đi học vở lòng, tôi theo chú qua bên kia sông học trường làng khác, do chú tôi làng trưởng giáo, rồi chiến tranh xảy ra chú tôi bỏ trường về tỉnh, trường gần nhà các thầy giáo theo Thanh Niên Tiền Phong bỏ trường, bỏ lớp cho nên tôi bị thất học vài năm.

Sau đó, một người cháu gọi ông Phủ là ông cố, vốn là con của một thầy giáo dạy ở trường tỉnh, lấy ngôi trường làng mở lớp dạy tư, tôi theo học lớp học nầy, nhưng thầy giáo ấy tôi chỉ gọi là Chú Hai, chớ không bao giờ gọi là thầy, vì chú ấy với cha tôi đều là cháu cố của ông Phủ, lại nữa trước kia khi tôi lên ba, lên bốn nhà chú cách nhà tôi chỉ có một căn nhà khác.

Đến giờ ra chơi của học trò vào buổi sáng hay buổi chiều, chú Hai thường hay đến nhà tôi uống nước trà, bàn chuyện thời sự với cha tôi. Vài năm sau, tôi với vài học trò của chú, cùng đi thi tại trường tỉnh, năm đó tôi đậu bằng Sơ đẳng Tiểu học.

Rồi chú ấy xin được làm thầy giáo, ở tỉnh lại phân bổ thêm một người thầy giáo nữa, thế là trường làng tôi có hai thầy dạy học trò, thay vì tôi được xuống tỉnh học, nhưng vì nhà không đủ sức nuôi, nên cha mẹ tôi cho tôi tới trường đi học một buổi sáng, buổi chiều ở nhà phụ giúp việc nhà, chờ thuận tiện cho tôi xuống tỉnh học tiếp. 

Trường có thêm thầy giáo, hơn nữa học trò đi học khỏi phải đóng tiền, nên nhiều phụ huynh cho con em tới trường, cô tôi có đứa cháu ngoại cũng được mẹ cháu cho tới trường, nó rủ thêm một đứa bạn cùng xóm đi học, bạn của nó là con của chú chệt ở sát cạnh nhà cô tôi, chú ấy ai cũng gọi là chú chệt Soạn, còn tôi gọi là chú Tư vì là hàng xóm của cô tôi.

Chú Tư và thím tư, người không quen biết mới nhìn biết ngay là khách trú, chú cũng như thím, không rõ từ đâu tới, mua đất đai và cất nhà bên cạnh nhà cô tôi, nói tiếng Việt rành nhưng giọng còn lơ lớ, chú thím có 2 cô con gái, cô gái lớn chắc hơn tôi bốn năm tuổi, tên là A Muối, tôi gọi là chị Muối, cô gái kế nhỏ hơn tôi một vài tuổi, tên là A Dậu, chắc cả hai sinh ra tại Việt Nam, nên nói tiếng Việt chẳng khác chi người Việt.

Cháu tôi ở nhà bà ngoại là cô tôi, nhà cô ấy và chú thím Tư ở đầu cù lao, gần ngôi chợ làng, từ đó cách trường học chừng bốn cây số ngàn.

Trường học thầy giáo dạy ngày hai buổi, nhiều học trò nhà ở xa trường, đi học phải mang theo thức ăn, buổi trưa ăn cơm tại trường, còn cháu tôi và A Dậu đến nhà tôi ăn trưa, có khi leo lên võng đưa kẻo kịt rồi ngủ trưa một giấc, cho đến khi nghe tiếng trống trường báo hiệu giờ học buổi chiều, hai cô bé mới thức dậy vội vàng rửa mặt, ôm vở tới trường.

Vào những dịp Tết hay có giỗ quảy ở nhà cô tôi, tôi thường đến dự, khi chị Muối được gia đình gả đi lấy chồng, A Dậu không còn đi học nữa, nên sang nhà cô tôi phụ giúp nấu nướng hay dọn mâm cỗ, tôi vẫn được gặp A Dậu trông cô xinh đẹp và thùy mị, e lệ mỗi khi chạm mặt tôi.

Một lần vào dịp Tết, tôi đi chúc Tết cô tôi, A Dậu cũng sang phụ dọn ăn, nhân khi không có ai, A Dậu đang cầm mỗi tay một dĩa thức ăn, mang đến cho tôi để tôi mang ra dọn ở bàn, khi A Dậu đến gần tôi liền vịn hai vai A Dậu và đặt lên gò má ửng hồng của nàng một cái hôn, A Dậu phản ứng nhẹ nhàng:

- Đừng anh!

Rồi tôi đi học và xa gia đình. Mấy năm sau, nghe nói A Dậu đã lập gia đình, nhiều năm sau nữa chú thím Tư Soạn mất, đất nhà của chú bán cho người khác, từ đó tôi không nghe ai nói về chị Muối và A Dậu. Rồi cô tôi cũng mất, mỗi khi về quê tôi không có nhiều thì giờ để đi thăm con cháu của cô tôi, tuy nhiên thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ tới A Dậu, hình ảnh cô xẩm nhỏ duyên dáng ở trong lòng tôi.

Gần đây, trong một dịp về quê, tôi phải đi phà qua sông để thăm gia đình người em cô cậu, lúc mới bước xuống phà tôi thấy một người đàn bà trộng tuổi, nhìn tôi không e ngại, khi tôi đứng yên chỗ, phà từ từ rời bến, người đàn bà ấy bước đến bên tôi hỏi:

- Xin lỗi! Anh có phải là anh của chị Út Lan không ?

Tôi ngạc nhiên, không trả lời ngay, nhìn người đàn bà để moi trong trí xem có gặp bà ta lần nào chưa ? Bà ta tuy có tuổi, nhưng dáng người thon gọn, mặc một bộ bà ba vải đắt tiền màu nhã, tóc cắt ngắn chấm vai, uốn dợn cho tôi đoán ngay bà ta người đứng đắn, gia đình khá giả ở thôn quê, là ai ? Tôi đành chịu, nhưng đoán biết vai vế nhỏ hơn, nên tôi đáp lời:

- Dạ phải! Tôi là anh của Út Lan. Nhưng xin lỗi cô là ai ? Biết tôi mà tôi chưa nhận ra được cô !

Cô ta không mừng khi biết rõ tôi, lại có cử chỉ và giọng nói hờn trách:

- Phải rồi ! Anh không nhớ em cũng phải !

- Xin lỗi ! Cho tôi hỏi lại lần nữa, cô là ai ?

Cô ta ngập ngừng đáp:

- Em … là .. A Dậu đây !

Tôi không còn bình tỉnh, đưa cả hai tay nắm vai cô ta, nói to:

- A Dậu!

Tiếng gọi của tôi làm cho vài người đứng gần, ngạc nhiên nhìn về phía chúng tôi, tôi lấy lại bình tỉnh, bỏ tay khỏi hai vai A Dậu nói:

- Không ngờ hôm nay lại được gặp cô !

- Em cũng vậy !

- Giờ cô đi đâu ?

- Em mới được tin, thằng con út của em nằm ở bệnh viện dưới tỉnh, nên em liền phải đi xuống đó thăm nó.

- Tôi đi với cô nghe ?

- Chi vậy anh ?

- Lâu ngày mới gặp, để có thì giờ nói chuyện nhiều hơn.

- Hồi đó em chờ đợi anh, từ khi em có gia đình em vẫn thầm mong có ngày gặp lại, nhưng nhà em đã bán, cô anh bà Tám đã mất, từ đó em nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại, không ngờ hôm nay em còn được gặp anh.

A Dậu nói đến đó, phà cập bến, mọi người rộn rịp lên bờ. Tôi đi theo A Dậu, chưa kịp nói thêm điều chi, cô đã lên tới đường rồi bước lên chiếc xe đò. Khi tôi lên bờ, xe từ từ lăn bánh, tôi kịp nhìn thấy A Dậu đã ngồi trong xe, nhìn lại vẫy tay chào.

Tôi đứng bên vệ đường ở bến phà nhìn theo xe, một câu hỏi tự dưng nổi lên xâm chiếm tâm hồn tôi: Sao dung ruổi gặp lại A Dậu làm chi, khuấy động mặt hồ sau mấy mươi năm yên tĩnh ?!   
10-II-2015

Monday, January 26, 2015

Ông Đoàn Trưởng



Năm Ất Dậu, đó là năm thương đau của nhiều dân tộc trên thế giới, riêng tại Việt Nam ở đất Bắc có đến cả triệu người bị chết đói, trong khi miền Nam, lúa gạo thừa thải, lúa không thể xuất khẩu, nên dư thừa, trong khi đó nhà máy đèn Chợ Quán, Cần Thơ không có than đá đốt lò, nhà cầm quyền đổ lúa vào đốt thay than.

Không có tàu thuyền đi lại, nên lúa gạo không thể xuất cảng, ngược lại hàng hóa tiêu dùng không thể nhập khẩu, không có hàng vải người ta phải trồng cây bông vải, nuôi tầm lấy tơ, để kéo bông vải thành sợ dệt vải thô, kéo tơ từ kén để làm sợi dệt lụa.

Đất đi bị bỏ hoang hóa, vườn tược không được chăm sóc, không có công ăn việc làm, trộm cướp nổi lên khắp nơi, nhà bị cướp tra khảo, người ta la làng, kêu hàng xóm tới cứu giúp, nhưng nào ai dám tới.

Ban ngày Thanh Niên Tiền Phong vác tầm vong vạt nhọn, tập đi một, hai, tập múa võ luyện quyền, nhưng ban đêm không người canh gác, gìn giữ an ninh.

Trong cảnh đó, người ta tổ chức những lực lượng vũ trang dần dần hình thành lực lượng Hòa Hảo của Năm Lửa, của Ba Cụt, của ông Nguyễn, của Hai Ngoán.

Thời đó, tôi còn nhỏ chỉ là đứa trẻ con, tôi biết trong làng có ông Đoàn Trưởng, ông là cháu nội của ông Phủ xưa, nhà ông cách nhà ông bà tôi để lại, chỉ có một căn nhà khác, nhưng căn cứ vào nền gạch nhà ông Phủ còn tồn tại, thì nhà ông Phủ và nhà của tôi sát vách nhau, nghe cô tôi kể chuyện lại, xưa nhà ông Phủ cột gỗ, vách bổ kho, cửa lá sách, mái lợp ngói âm dương, có lầu thờ Phật, sau khi ông Phu qua đời, có người cháu nội ghiền á phiện, nên bán vật dụng trong nhà từ bàn ghế cho đến cửa nẽo để mua thuốc hút, sau cùng nhà lớn phải dở ra, cất nhỏ lại thành ba gian, cũng còn vách bổ kho, cửa lá sách, lợp ngói âm đương, cho nên cái nền cũ còn có thể cất hai căn nhà nữa.

Một người cháu nội khác ở trong căn nhà thờ tự đó, ngày còn nhỏ, tôi thường chạy sang nhà ấy chơi, thấy có treo một tấm ảnh lớn lộng kính, ảnh bán thân, một người đàn ông phương phi, mặc áo dài màu xanh da trời, trên ngực áo bên tay trái có mang một huy chương, râu dài bạc phơ, trên đầu bịt khăn đóng cũng màu xanh, tấm ảnh không treo trên bàn thờ, cũng không treo nơi vách, mà treo trên cây xuyên của dãi cột hàng nhì, gian bên tay trái. Ảnh bán thân đó, cô tôi cho biết đó là ông Phủ, cô gọi bằng ông Cố. 

Lúc nhỏ tôi không biết, nhưng lớn lên tìm hiểu tôi mới biết, người mà Cô tôi gọi là ông Cố, là cha nuôi của ông cố tôi, do có sự liên hệ ấy, nên nhà ông bà của tôi cất sát vách nhà ông Phủ, và thuở nhỏ tôi thường chạy qua chạy lại chơi với mấy chú nhỏ trong căn nhà đó.

Năm1944, cha tôi dỡ căn nhà cũ của ông bà để lại, gom góp cột kèo cất một căn nhà nhỏ hai mái, ba gian trên nền nhà cũ đó là đất của ông Phủ, cho chú tôi ở. Còn gia đình tôi dời đi cất một căn nhà khác trên phần đất cha mẹ tôi vừa mới mua được của người bà con, chỉ xa căn nhà cũ vài trăm thước. Tôi vẫn lui tới hằng ngày căn nhà của chú tôi, vì nơi đó là nơi chôn nhau cắt rún của tôi, tôi thương yêu, thân thiết từ bụi chuối sau hè, cây tầm ruột trước sân, bến sông, con nước.

Tôi vẫn qua lại nhà ông Chín, chơi với con ông là chú Gốc, chú Nhã, lúc đó tôi biết ông đang giữ chức Đoàn Trưởng, tôi không hiểu chức ấy như thế nào, chỉ biết đó là chức do Phật Giáo Hòa Hảo đặt ra và ông làm việc cho họ, dưới ông có anh ba Quan ở xóm trên nhà tôi làm Phó, công việc của họ tôi được biết là xử kiện.

Một lần, có một anh nhà ở gần Đình, nghe nói anh đi buôn bán chi đó, xuống miệt dưới hay lên Sàigòn bằng ghe. Lần đó, dọc đường anh bị cướp, bọn cướp dùng nùi giẻ tẩm dầu rồi đốt trên ngực gần bên vai phải, để khảo tiền anh cất dấu dưới ghe sau khi bán hết hàng.

Thoát khỏi tay bọn cướp về đến nhà, anh được vợ thuật lại đã bị thằng Xùi trong xóm, một hôm thừa trời mưa và do vì nhà ở khu vắng vẻ, nó đã vào nhà hãm hiếp chị ta, anh chồng đem chuyện đó thưa tên Xùi cho ông Đoàn Trưởng phân xử. Ngày nay tôi còn nhớ, ông Chín làm Đoàn Trưởng đã mở phiên xử vào buổi sáng tại nhà ông, có vợ chồng anh kia và thằng Xùi với vài người nữa, tôi không rõ có ai là nhân chứng hay chỉ là người đến dự, ngày đó tôi là đứa con nít, lúc đứng ngoài hiên, lúc ngồi bậc thềm nghe tiếng hỏi đáp từ bên trong nhà và cho đến nay, tôi không còn nhớ kết cục phiên xử ấy thế nào nữa. 

Thời đó, ông Đoàn Trưởng có cây súng “Mút-cờ-tông”, của ai đó đem giao nộp cho ông, tôi có thấy ông và vài người lón đem ra sau nhà, lên “Cuy-lát”, bóp cò thử súng nghe "lách cách", về sau ông không còn làm việc nữa, không nghe thấy ai nhắc tới cây súng nầy. 

Ông Chín, tên là Nguyễn Trọng Tuy gọi là Tri, đến thời Đệ nhất Cộng Hòa, có ra làm Đại Diện Xã Bình Thủy một thời gian, khoảng năm 1960.

Còn anh ba Quan có xử một vụ ăn trộm vịt, cuộc tra hỏi và phân xử tại nhà anh vào buổi tối, thằng ăn trộm vịt bị phạt làm công ích quét lá, dọn dẹp sạch sẻ ở Đình mấy hôm.

Ông Đoàn Trưởng đã mất từ lâu, năm 2014, tôi có viếng mộ ông bà Phủ và ông bà Đoàn Trưởng, bởi vì có một lần ghé nhà thăm ông bà, bà có bảo tôi làm một việc trước mặt ông, là tôi tìm cháu ngoại của bà để xây mộ cho mẹ nó là con riêng của bà, nhưng đứa cháu đó đã chết từ nhỏ mà bà không biết, hoặc bà biết mà tôi không biết, khi tôi biết thì bà đã mãn phần, nay mộ con gái bà cũng được cải táng mồ yên mã đẹp trong nghĩa trang gia đình  ông Phủ. Cho nên tôi muốn được nhìn thấy mộ con gái bà được cải táng và đứng trước mộ bà để tạ lỗi, là tôi không làm tròn việc, bà đã tin cậy giao phó cho tôi.

 Lex260115

Thursday, October 30, 2014

Cù Lao Năng Gù



Cù lao Năng Gù

Xã Bình Thủy ( 1 ) là một xã nằm trên cù lao Năng gù, thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Cù lao Năng Gù nằm trên sông Hậu, cách thành phố Long Xuyên khoảng 20 km, cách thị xã Châu đốc khoảng 30 km. Phía Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc giáp với sông Hậu và xép Năng Gù, bên kia sông là hai xã Bình Thạnh Đông và Tân Hòa thuộc huyện Phú Tân và xã Bình Mỹ; phía Đông giáp với sông Hậu, bên kia sông là xã Mỹ Hội Đông, thuộc huyện Chợ Mới. Tây Nam cũng giáp với sông Hậu và xép Năng Gù, bên kia sông là xã An Hòa,thuộc huyện châu thành; phía Tây giáp với xép Năng Gù, bên kia sông là Bình Mỹ, thuộc huyện Châu Phú.

Cù lao Năng Gù có hai con rạch thiên nhiên chạy song song nhau, một con rạch nằm gần phía sông Hậu có tên là Rạch Cát, một con rạch nằm phía xép ( 2 ) Năng Gù có tên là Rạch Chanh, phần cuối Rạch Chanh thông ra chỗ ngôi Đình làng, nằm khoảng giữa Cù Lao. Ngoài ra còn vài con rạch nhỏ, phát xuất từ giữa cù lao, thông ra Rạch Chanh, chiều dài không đáng kể, có một con kênh đào Đông Tây lớn được gọi là kênh Đình Bình Thủy, do Làng huy động dân làm xâu đào trước cách mạng mùa thu năm 1945 vài tháng, kênh này có tác dụng cho dân chúng lưu thông từ xép Năng Gù qua Mỹ Hội Đông được thuận tiện hơn. Hiện tại chính quyền địa phương đang có chủ trương san lắp con kênh này để làm đường cho cầu bắt ngang sông.

Trong thập niên 1980 phía Bắc, Đông, Tây đất lở rất dữ đội, diện tích cù lao Bình Thủy bị thu hẹp nhiều, bên bờ xếp Năng Gù đất lở vào khoảng 20 mét, bên bờ sông Hậu đất lở mất trên 100 mét.

Trước năm 1975 xã Bình Thủy có 4 ấp: Bình Phú, Bình Hòa, Bình Thới, Bình An (nay là xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).

Hiện nay xã Bình Thủy có 6 ấp: Bình Phú, Bình Quý, Bình Thới, Bình Thiện, Bình Hòa, Bình Yên.

Nhà của Hương sư Lâm Văn Nguyện, thân phụ cô giáo Lâm Thị Hương (có dạy ở Trường Tiểu Học Bàn Cờ Sàigòn vào đầu thập niên 70), sau đó về dạy Trường A Bình Thủy

Cù lao Năng Gù có ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí Tập Hạ, là cù lao có nhiều tre, trù phú nhờ nông, thủy sản. Xưa có tên là làng Bình Lâm, đến thời Pháp thuộc đổi ra là làng Bình Thủy, làng có bốn ấp, ba ấp nằm trên cù lao là ấp Bình Phú nằm ở xép Năng Gù từ đầu cù lao chạy xuống tới đình làng, ấp Bình Hòa nằm ở xép chạy từ đình làng tới cuối cù lao, ấp Bình Thới nằm phía sông Hậu (thường có tên gọi là bên Hồ), chạy từ đầu cù lao tới cuối cù lao, ấp Bình An nằm bên kia xép Năng Gù tiếp giáp với các xã Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), Cần Đăng (Hang Tra), Bình Mỹ.

Vào khoảng đầu thiên niên kỷ 20, Ban Hội Tề làng Bình Thủy đã trưng thu tất cả đất của dân từ Rách Cát ra đến sông Hậu giang làm đất Công điền, công điền cho dân chúng thuê lấy tiền bỏ vào quỹ gọi là Công nho, dùng Công nho để cúng đình, xây dựng, tu bổ đình, trường học, cầu đường ... Nhờ vậy, đình làng Bình Thủy rất khang trang.

Là một cù lao nhỏ nhưng tồn tại trên 10 căn nhà rất to lớn trang trí kiến trúc hoa văn kiểu Pháp, xây dựng vào những năm 1930, chủ nhân là các ông Trần Văn Chốn, Phan Hòa Huỡn, Lâm Văn Nguyện... hiện tại những ngôi nhà này còn rất đẹp như nhà cô giáo Lâm Thị Hương (con gái ông Lâm Văn Nguyện), nhà thầy Hai Phát (con ông Phan Hòa Huỡn)...

Dân chúng sống chủ yếu bằng nghề ruộng, rẫy, đánh bắt cá, hiện tại là nuôi cá tra, cá basa hầm. Ở đây chưa có nhà máy hay khu công nghiệp nên lứa tuổi thanh niên có trình độ thấp đi lao đông phổ thông nơi khác nhiều.

Trước 1975, về tín ngưỡng làng Bình Thủy có Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Tứ Ân, Thiên Chúa Giáo và Cao Đài. Phật Giáo có 3 ngôi chùa, một ngôi chùa do Làng cất nằm ở Rạch Cát, một ngôi chùa tư do gia đình ông Dương Văn Nghét cất cách đình làng chừng 500m có tên là Bình Phước Tự, một ngôi chùa mới cất trong phần đất của cô giáo Hương có tên là Kỳ Lâm Tự, có Nhà Thờ Năng Gù xây cất khang trang từ lâu đời và hai nhà nguyện, một số Độc Giảng Đường của Phật Giáo Hòa Hảo.

Sau 1975, ấp Bình An tách ra hợp với một phần đất xã Bình Hòa thành xã An Hòa, nên làng Bình Thủy ngày nay không có nhà thờ, nhà nguyện và cũng không còn Độc Giảng Đường. Tín ngưỡng chỉ còn có Phật giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương.

Dân làng Bình Thủy có tiếng về hiếu học và đi lập nghiệp thành công trên nhiều lĩnh vực..Bất cứ người dân làng Bình Thủy ra đi lập nghiệp nơi đâu khi đến ngày mùng 9, 10 tháng 5 âm lịch đều nhớ và hướng về ngày đại lễ này, lệ kỳ yên hay lễ cầu an hoặc cúng đình Bình Thủy, cầu cho mưa thuận gió hòa, dân chúng được mùa. Lệ cúng này, không nhằm vào ngày mùa nên trước đây hàng năm có tổ chức lễ hội đua thuyền, là một lễ hội lớn có rất nhiều người tham dự, đến nay hàng năm lễ hội đua thuyền vẫn tiếp tục duy trì. Ngoài lễ kỳ yên tháng 5, Đình Bình Thủy còn hai lệ cúng khác, một vào 19, 20 tháng Chạp và một vào 21, 22 tháng Giêng.

Làng Bình Thủy hiện nay có bốn trường Tiểu Học và một trường Trung Học Cơ Sở Bình Thủy, trường THCS này nằm ngay phía sau ngôi đình làng.trường xưa nhất là Trường Tiểu Học A Bình Thủy ( 3 )

Làng Bình Thủy có một ông họ Dương, không rõ tên đến định cư đầu tiên ở cù lao Năng gù, người trước kiêng cử chỉ gọi là Ông Tiền Hiền, được dân làng trọng vọng vì công đức của ông, nên có bài vị thờ trong Đình Làng, mộ của ông nằm trong phần đất của bà Dương Thị Út, là một gánh họ lớn, đông con cháu thường có tên tuổi trong làng. Bên ngoại của cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ thuộc họ Dương này, bên cạnh đình làng có phủ thờ ông Tiền Hiền này.

Trong Làng có ông Nguyễn Bá Thanh là một vị quan Phủ xưa, không rõ ông trấn nhậm phủ nào trong tỉnh An Giang, khi hưu trí ông lui về ở ấp Bình Phú, phía trên Đình làng chừng 800m, ông là một người mộ đạo Phật, nhân đức, trong đất của ông hiến cho Làng một phần để xây cất trường học, đó là ngôi trường học đầu tiên của Làng, phía sau trường ông cũng dành một miếng đất làm nghĩa trang, để chôn cất những kẻ nghèo khó. Cháu nội ông, giáo học Nguyễn Văn Đe từng dạy học ở trường tỉnh Sa Đéc, Long Xuyên, cháu cố ông Nguyễn Hoa Hẩu là thầy giáo dạy trường làng đầu tiên khi trường học mở lại sau chiến tranh 1945.

Nghe nói xưa kia làng Bình Mỹ có ông Phạm Phú Quý vốn là nông dân, không hiểu ông đã được vàng bạc như thế nào mà phất lên giàu có, mua đất "cò bay thẳng cánh", ông có làm đến chức Phó Cai Tổng, nên người ta gọi ông là Thầy Phó. Để cho đất của ông màu mỡ, tá điền chở lúa dễ dàng, trong đất ông đào những con kênh, gọi là kinh ngang, kinh giữa, kinh chót, ông cho đào một con kinh thông ra xép Năng Gù, cắt con lộ Liên Tỉnh 10, nên ông phải bỏ tiền ra đúc một cái cầu, gọi là Cầu Thầy Phó, con kinh đó đâm thẳng qua Trường học A Bình Thủy vốn là đất của ông Phủ Nguyễn Bá Thanh, ông Phủ sau đó cho đào trong đất mình một cái mương, nối từ Rạch Chanh thông ra Xép Năng Gù, cái mương này, cắt con lộ nên ông bắt một cầu gỗ có lan cang, gọi là Cầu Mương xe hơi có thể chạy qua lại, mương này đâm thẳng qua nhà Thầy Phó. 

Sau đó thì gia đình ông Phủ suy sụp, còn gia đình ông Thầy Phó Quý sau năm 1945 cũng suy tàn, dinh cơ của Thầy Phó Quý rất lớn, đầu thập niên 70, Mỹ nới rộng đường Long Xuyên Châu Đốc, phải phá bỏ hàng rào sắt không kém hàng rào sắt Dinh Độc Lập, từ đó dinh cơ này hoang tàn. Sau thập niên 80 con cháu Thầy Phó có trở về, nhưng đất đai đã bán cho Tướng Lâm Thành Nguyên (Cậu Hai Ngoán) từ trước hoặc đã bị truất hữu theo Luật Người Cày Có Ruộng. Có thể nói, cả hai gia đình danh giá, nhà cửa dinh cơ đồ sộ đã suy tàn, người ta cho là vì hai con kinh đó mà ra.

Ghi chú:

1. Bài này, tôi có tham gia sửa chữa trên Wikipedia, nhưng ai đó viết Tựa Cù Lao Bình Thủy tôi không sửa được tựa, Long Xuyên không có cù lao Bình Thủy, cù lao Bình Thủy ở Cần Thơ, còn An Giang có Cù lao tên là Năng Gù, còn làng trên cù lao là làng Bình Thủy. Tên cù lao Năng Gù không đổI, còn tên làng, thời nhà Nguyễn là làng Bình Lâm, đến thời Pháp mới đổi là làng Bình Thủy.
2. Xép là một con sông nhỏ, phụ lưu của sông Cái.
3. Thay vì gọi là Trường Tiểu Học Bình Thủy A, Sau 1975, nhà cầm quyền không chịu theo cách sử dụng chữ nghĩa Miền Nam nên gọi là Trường Tiểu học "A" Bình Thủy, Trường Tiểu học "B" Bình Thủy ...., các làng khác cũng vậy.